Xu hướng phát triển ngành dịch vụ hiện nay

Xu hướng phát triển ngành dịch vụ hiện nay

Ngành dịch vụ đang nổi lên như một động lực chính của thương mại toàn cầu. Dịch vụ đã làm thay đổi nền kinh tế quốc gia trên quy mô lớn. Dịch vụ không chỉ là thứ không thể thiếu để vận hành nền kinh tế công nghiệp ngày càng phức tạp và đa dạng của chúng ta - từ hậu cần, tài chính, đến tin học - mà ngành dịch vụ còn là phân khúc kinh tế phát triển nhanh nhất theo đúng nghĩa của nó - từ dịch vụ kinh doanh, chăm sóc sức khỏe, đến giải trí. Bài viết này sẽ chỉ ra 7 xu hướng phát triển của ngành dịch vụ trên thế giới trong những năm gần đây và từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển ngành dịch vụ của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và cải cách.

7 Xu hướng phát triển của ngành dịch vụ trên Thế Giới

1. Xu hướng thứ nhất: Kinh tế thế giới đang chuyển đổi sang nền kinh tế dịch vụ 

Nền kinh tế dịch vụ hiện nay dựa trên hai nền tảng chính là toàn cầu hóa và kinh tế tri thức và được thúc đẩy bởi những thành tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Toàn cầu hóa và kinh tế tri thức làm thay đổi thói quen sinh hoạt và tiêu dùng trong đời sống kinh tế - xã hội, xu hướng kinh doanh và chính sách của chính phủ đối với ngành kinh tế dịch vụ. 

Khi nền kinh tế ở một trình độ phát triển cao, xu hướng tiêu dùng cận biên (MPC) đối với dịch vụ lớn hơn nhiều xu hướng tiêu dùng cận biên đối với sản phẩm hàng hóa. Con người có nhu cầu nhiều hơn đối với các sản phẩm phi vật chất của dịch vụ như thẩm mỹ, giáo dục và giải trí,..

Xu hướng kinh doanh cũng thay đổi để đáp ứng các nhu cầu nói trên. Các công ty ngày nay tập trung nhiều hơn vào việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao như phần mềm máy tính, vẽ kiểu dáng, phát minh máy móc tự động và chăm sóc phần tâm hồn của con người. 

2. Xu hướng thứ hai: Công nghệ thông tin thúc đẩy toàn bộ ngành dịch vụ phát triển, còn tài chính - ngân hàng và dịch vụ kinh doanh là những ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất 

Ngành dịch vụ tri thức phát triển dựa vào khoa học kỹ thuật mà hạt nhân là công nghệ thông tin. Hàm lượng công nghệ và tri thức ngày càng cao hơn trong các sản phẩm dịch vụ giúp cho nhiều loại dịch vụ, kể cả những dịch vụ truyền thống, được cung cấp và tiêu dùng hiệu quả hơn rất nhiều. Thí dụ, thông qua internet, các công ty lữ hành có thể cung cấp thông tin về các tuyến du lịch, đặt khách sạn và vé máy bay; các nhà phân phối có thể chuyển từ hình thức bán hàng cổ điển sang thương mại điện tử; ...

Các ngành tài chính - ngân hàng (gồm cả bảo hiểm) và dịch vụ kinh doanh trở thành hai ngành dịch vụ quan trọng, tạo ra phần lớn giá trị gia tăng của ngành dịch vụ và là động lực thúc đẩy tăng trưởng của toàn nền kinh tế. 

Trong ngành dịch vụ kinh doanh, các ngành phần mềm máy tính, xử lý thông tin, nghiên cứu-triển khai, dịch vụ kỹ thuật, marketing, tổ chức kinh doanh và phát triển nguồn nhân lực đang trở thành những ngành dịch vụ kinh doanh chiến lược

3. Xu hướng thứ ba: Sản phẩm dịch vụ ngày càng có tính chất của sản phẩm hàng hóa 

Khoa học kỹ thuật hiện đại đã làm thay đổi tính chất truyền thống của dịch vụ, khiến dịch vụ có tính chất hàng hoá nhiều hơn, vừa lưu trữ và vận chuyển được đến mọi nơi, vừa có thể sử dụng được trong một thời gian dài, thậm chí gần như vô hạn. Một trong những yếu tố khiến các sản phẩm dịch vụ mang tính chất hàng hóa nhiều hơn là quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ ngày càng giống như quá trình sản xuất hàng hóa.

4. Xu hướng thứ tư: Thuê ngoài (Outsourcing) ngày càng tăng trong ngành dịch vụ 

Một trong những yếu tố thúc đẩy ngành dịch vụ hiện nay phát triển là xu hướng các công ty “thuê ngoài” nhiều hơn đối với các hoạt động trước đây vẫn tự mình tiến hành.

Ngày nay, hầu hết các giai đoạn của quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ đều có thể được thuê ngoài . Thí dụ, trong trường hợp của dịch vụ công nghệ thông tin, thuê ngoài có thể diễn ra từ khâu đặt hàng bên ngoài các chương trình máy tính thành phần đến marketing và đóng gói sản phẩm phần mềm cuối cùng. Thuê ngoài không chỉ bó hẹp giữa các công ty trong một quốc gia mà còn là các hoạt động xuyên biên giới. “Thuê ngoài” là việc một nhà cung cấp dịch vụ tìm cách đặt hàng một số hoặc tất cả các sản phẩm đầu vào cho dịch vụ của mình từ các nhà cung cấp dịch vụ khác. . Công nghệ thông tin là dịch vụ được thuê ngoài nhiều nhất hiện nay. Công nghệ thông tin cho phép hệ thống công ty được tổ chức theo mạng lưới, trong đó các công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau song có liên quan với nhau có thể phối hợp với nhau hiệu quả như là trong một công ty. 

Các yếu tố chính khiến các công ty thuê ngoài dịch vụ bao gồm:

  • Giảm chi phí và tăng hiệu quả: các công ty thực hiện dịch vụ thuê ngoài cung cấp các dịch vụ với chi phí thấp hơn song vẫn duy trì được khả năng sáng tạo. 
  • Năng lực hạn chế: do các dịch vụ như thông tin, tài chính, máy tính, nghiên cứu và đào tạo ngày càng trở nên phức tạp nên các không ty sẽ không thể duy trì khả năng cạnh tranh nếu như tiếp tục đảm nhận các khâu sản xuất không thuộc lĩnh vực chuyên môn. 
  • Chuyên môn hóa: nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, các công ty có xu hướng chuyên môn hóa trong những lĩnh vực nhất định nhằm giảm chi phí và khai thác lợi thế bên ngoài nên đã tạo điều kiện hình thành các công ty chuyên môn cung cấp các dịch vụ thường được thuê ngoài (OECD, 2000, 15). 
  • Tăng cường sản xuất: thuê ngoài giúp các công ty xây dựng một mạng lưới sản xuất rộng rãi, đảm bảo việc cung ứng dịch vụ được liên tục và giúp cho các công ty trở nên linh hoạt hơn, tránh được các chu kỳ kinh doanh suy thoái để tăng cường sản xuất . 

5. Xu hướng thứ năm: FDI vào ngành dịch vụ tăng nhanh và vượt quá FDI vào ngành chế tạo

Xu hướng FDI vào ngành dịch vụ tăng nhanh xuất hiện từ những năm 1990 do các nhà cung cấp dịch vụ tăng cường thiết lập sự “hiện diện thương mại” tại các thị trường nước ngoài. Hiện diện thương mại là phương thức cung cấp dịch vụ thông qua sự hiện diện của các nhà cung cấp của một nước ở trong lãnh thổ của nước khác (OECD, 2000: 25) và điều này thường đòi hỏi phải đầu tư vào một hoạt động dịch vụ nào đó. Theo một báo cáo của OECD (2000: 25, 26), FDI vào ngành dịch vụ ở các nước OECD tập trung vào các ngành như bán lẻ, ngân hàng, dịch vụ kinh doanh, viễn thông, khách sạn và nhà hàng là những ngành cần có sự hiện thương mại để tiến hành hoạt động kinh doanh. Song FDI vào các lĩnh vực như giáo dục, y tế, các dịch vụ cá nhân và xã hội còn hạn chế. 

6. Xu hướng thứ sáu: Thương mại dịch vụ (quốc tế) gia tăng song tỷ trọng vẫn kém xa thương mại hàng hóa 

Xu hướng gia tăng của thương mại dịch vụ có các đặc điểm sau: 

  • Một là sự gia tăng không đều ở các nền kinh tế
  • Hai là thương mại của các ngành dịch vụ gia tăng không đều.
  • Ba là phương thức “hiện diện thương mại” trong thương mại dịch vụ ngày càng phổ biến. Xu hướng này hoàn toàn phù hợp với xu hướng gia tăng FDI trong ngành dịch vụ

7. Xu hướng thứ bảy: Năng suất trong ngành dịch vụ không tăng nhanh 

Mặc dù lao động trong ngành dịch vụ ngày một nhiều song năng suất của ngành dịch vụ lại không tăng nhanh. Tại nhiều nền kinh tế, đóng góp của ngành dịch vụ cho tăng năng suất của toàn nền kinh tế rất hạn chế, đặc biệt là khi so với tỷ trọng ngày một tăng của ngành dịch vụ trong nền kinh tế. 

Năng suất trong ngành dịch vụ tăng chậm do hai nguyên nhân chính:

  • Một là do đặc thù của một số ngành dịch vụ là năng suất thấp, không chỉ là những ngành sử dụng nhiều lao động thủ công (như các dịch vụ xã hội và cộng đồng, khách sạn và nhà hàng) mà cả những ngành đòi hỏi nguồn lao động có kỹ năng (như y tế và giáo dục). Tuy nhiên, năng suất tăng chậm trong những ngành này có phần nào được bù đắp bởi các ngành khác có năng suất tăng nhanh, đặc biệt là các ngành dịch vụ kinh doanh (như trung gian tài chính), vận tải và lưu kho, viễn thông và bán buôn và bán lẻ. Đây chủ yếu là các ngành tận dụng được những thành tựu của khoa học kỹ thuật như công nghệ thông tin hoặc là các ngành được mở cửa và tham gia vào cạnh tranh quốc tế. 
  • Hai là các số liệu cho thấy năng suất trong ngành dịch vụ tăng chậm có thể là do sai số thống kê. Thí dụ, mọi người đều nhận thấy tiến bộ khoa học kỹ thuật làm thay đổi quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ, qua đó làm tăng năng suất trong các ngành dịch vụ phân phối, viễn thông và một số phân ngành của lĩnh vực tài chính, song thay đổi này rất khó có thể được thống kê. 

Những hàm ý cho sự phát triển của ngành dịch vụ Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và cải cách 

Bảy xu hướng phát triển của ngành dịch vụ trên thế giới nói trên đã và đang đặt ra những vấn đề lớn đối với sự phát triển của ngành dịch vụ Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và cải cách kinh tế hiện nay. 

Thứ nhất, quan niệm truyền thống cho rằng ngành dịch vụ chỉ có thể phát triển tốt được khi nền kinh tế đạt tới một trình độ phát triển nhất định (Rostow, 1959). Theo đó, những nền kinh tế nông nghiệp sẽ phải trải qua giai đoạn công nghiệp hóa để có đủ điều kiện xây dựng và phát triển nền kinh tế dịch vụ. 

Thực tế cho thấy quá trình công nghiệp hóa ở các nước như Trung Quốc và Ấn Độ đã phải trả giá bằng những tổn thất vô giá về mặt môi trường. Ngược lại, trong điều kiện bị hạn chế về nguồn lực, những nền kinh tế có xuất phát điểm là tình trạng kém phát triển như Xingapo cách đây hơn 40 năm vẫn có thể phát triển tốt ngành dịch vụ bằng cách tập trung vào một số ngành dịch vụ ưu tiên như vận tải biển, giáo dục và tài chính. Vì thế, phát triển ngành dịch vụ nói chung, trong đó chú trọng ưu tiên phát triển một số ngành dịch vụ mang tính “đột phá” có thể tạo ra những hiệu ứng cấp số nhân làm thay đổi cấu trúc của toàn bộ ngành dịch vụ và nền kinh tế, chính là cơ hội để nền kinh tế Việt Nam đi tắt đón đầu, nhanh chóng chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ. 

Một số Báo cáo của Bộ Kế hoạch đầu tư phối hợp với Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (2005: 35; 2006: 73) trước đây đã từng khuyến nghị rằng Việt Nam nên ưu tiên phát triển ba ngành dịch vụ mũi nhọn là viễn thông, giáo dục-đào tạo và dịch vụ kinh doanh. Bài viết này cho rằng do nguồn lực hạn chế và yêu cầu phát triển nhanh của nền kinh tế, trong thời gian tới, ít nhất là từ nay cho đến năm 2020, Việt Nam cần chú trọng ưu tiên phát triển ba ngành dịch vụ là ngành dịch vụ ngân hàng và chứng khoán và hai phân ngành ở mức hẹp hơn so với khuyến nghị của các báo cáo nói trên là ngành dịch vụ giáo dục đại học và sau đại học và ngành dịch vụ khoa học-công nghệ (trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội). Ngành dịch vụ ngân hàng và chứng khoán là ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nên sẽ là động lực thúc đẩy và có tác động lớn đến sự ổn định phát triển kinh tế vĩ mô. Ngành dịch vụ giáo dục đại học và sau đại học đảm bảo việc cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao và cùng với ngành dịch vụ khoa học-công nghệ là những ngành dịch vụ “trung gian,” tạo nền tảng thúc đẩy các ngành dịch vụ khác như ngành dịch vụ công nghệ thông tin phát triển, qua đó giúp Việt Nam từng bước tiến vào nền kinh tế dịch vụ, nhất là nền kinh tế dịch vụ tri thức đang trở thành xu thế phát triển chung của thế giới. 

Thứ hai, trong quá trình cải cách và mở cửa kinh tế, ngành dịch vụ của Việt Nam nói chung và các ngành dịch vụ ưu tiên nói trên không thể tránh khỏi những xáo động nhất định. Các ngành dịch vụ ngân hàng và chứng khoán, giáo dục đại học và sau đại học và khoa học công nghệ vốn thuộc độc quyền nhà nước hoặc được nhà nước hỗ trợ nhiều đang từng bước mở cửa, cạnh tranh với bên ngoài hoặc phát triển độc lập. Những năm gần đây, trong xu thế chung của thế giới, ngành dịch vụ ngân hàng và dịch vụ chứng khoán của Việt Nam đã phát triển hết sức nhanh chóng. Tuy nhiên, đây lại là tình trạng phát triển “nóng” đầy rủi ro khi lợi nhuận cao của hai ngành này không dựa trên tình trạng kinh doanh thực tế của các ngân hàng và doanh nghiệp mà là hoạt động đầu cơ vào sự méo mó của nền kinh tế vĩ mô trong các vấn đề về cổ phần hóa, tỷ giá, lãi suất và lạm phát v.v… mà bằng chứng là sự tụt dốc của thị trường chứng khoán trong thời gian gần đây. Vì thế, phát triển ngành dịch vụ ngân hàng và chứng khoán đòi hỏi phải cải cách cơ sở hạ tầng của hai ngành này là hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán hiện nay. Tương tự, phát triển ngành dịch vụ giáo dục đại học và sau đại học và khoa học - công nghệ phải đi kèm với cải cách hệ thống giáo dục và nghiên cứu khoa học trong nước, không chỉ theo hướng tự do cạnh tranh để nâng cao chất lượng mà còn phải gắn với những định hướng rõ ràng (như về ngành nghề cần đào tạo và lĩnh vực cần nghiên cứu) để hai ngành này đáp ứng đúng yêu cầu của nền kinh tế và không lãng phí nguồn lực trong nước và nguồn tài trợ bên ngoài. 

Thứ ba, trong những năm qua, Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn của nguồn vốn FDI song nghịch lý của Việt Nam so với xu thế chung của thế giới đã nêu ở trên là phần lớn FDI vào Việt Nam mới chỉ tập trung vào các ngành chế tạo và FDI vào các ngành dịch vụ còn tương đối hạn chế. Vì vậy, Việt Nam cần phải và hoàn toàn có thể nắm lấy cơ hội nhận được FDI nhiều hơn bằng cách tăng cường thu hút FDI vào lĩnh vực dịch vụ. Bên cạnh việc cải thiện khung khổ luật pháp và chính sách trong nước thì Việt Nam sẽ cần lợi thế là nguồn lao động có tay nghề để làm việc trong các ngành dịch vụ nên ngành giáo dục đại học và sau đại học cần được ưu tiên phát triển để đáp ứng tốt yêu cầu này. 

Cùng với xu thế FDI vào lĩnh vực dịch vụ gia tăng thì xu thế thuê ngoài và xuất khẩu dịch vụ cũng đang chuyển từ chỗ là thách thức sang trở thành cơ hội cho ngành dịch vụ của Việt Nam phát triển. “Tự làm” vốn là xu hướng phổ biến trước đây của các doanh nghiệp nhà nước song dưới sức ép phải trở nên năng động hơn hiện nay, các doanh nghiệp này sẽ giảm bớt sự “ôm đồm” này. Vì vậy, các doanh nghiệp dịch vụ tư nhân vừa và nhỏ có thể tận dụng cơ hội thuê ngoài để phát triển, không chỉ là những cơ hội ở trong nước mà còn có thể hòa mình vào mạng lưới cung ứng dịch vụ khu vực và thế giới. FDI và “thuê ngoài” trong ngành dịch vụ tăng sẽ thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm dịch vụ. Việt Nam là một nền kinh tế hướng ra xuất khẩu song hiện mới chỉ tập trung vào xuất khẩu hàng hóa. Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi cạnh tranh với Trung Quốc, nước được gọi là “công xưởng” của thế giới nhưng Việt Nam có thể trở thành nhà cung ứng dịch vụ cho công xưởng này. Trong ba ngành dịch vụ ưu tiên kể trên thì ngành dịch vụ khoa học - công nghệ có nhiều cơ hội để thực hiện “thuê ngoài” và xuất khẩu hơn cả và chính bằng cách này thì ngành dịch vụ khoa học - công nghệ của Việt Nam sẽ có điều kiện để tiến bộ và phát triển vững mạnh hơn. 

Thứ tư, xu hướng trên thế giới cho thấy năng suất bình quân trong ngành dịch vụ không cao và cũng không tăng nhanh là thách thức lớn cho Việt Nam khi muốn nâng cao chất lượng của nền kinh tế. Ngay cả một số ngành dịch vụ trên thế giới có xu hướng tăng năng suất gần đây như ngành giao thông vận tải thì năng suất của ngành này ở Việt Nam vẫn còn rất thấp mà bằng chứng là thâm hụt thương mại của ngành dịch vụ vận tải vẫn tăng nhanh. Trong điều kiện đó, giáo dục đại học và sau đại học và khoa học - công nghệ sẽ là hai ngành dịch vụ trung gian quan trọng, giúp 12 tăng năng suất của các ngành dịch vụ khác nhờ tạo ra nguồn lao động có tay nghề cao và giúp cải tiến quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ. 

Tóm lại, bằng cách chú trọng phát triển ba ngành dịch vụ: dịch vụ ngân hàng và chứng khoán để tạo ra tốc độ tăng trưởng cao; dịch vụ giáo dục đại học và sau đại học và dịch vụ khoa học - công nghệ để xây dựng cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực cần thiết, mặc dù là một nước kém phát triển, Việt Nam sẽ có điều kiện để đi tắt đón đầu, tiến bước nhanh tới nền kinh tế dịch vụ và thu hẹp khoảng cách phát triển với thế giới.

Ngày cập nhật: 2021-09-14 05:46:01

Bài viết liên quan

icon messenger icon zalo icon phone
ajax-loader